Tin tức - sự kiện

Thống kê hệ thống giáo dục có nên làm bằng đại học cao đẳng

giáo dục có nên làm bằng đại học cao đẳng
Thống kê hệ thống giáo dục có nên làm bằng đại học cao đẳng
5 (100%) 1 vote

Trong 50 năm qua, hệ thống làm bằng đại học chuyên ngành giáo dục đại học và cao đẳng ở việt nam trải qua nhiều thay đổi, trong đó đáng chú ý nhất là việc chuyển hướng sang hình thức giáo dục tập trung. Đến năm 1999, dân số việt nam có trình độ đại học hoặc cao đẳng hoặc cấp 3 so với sô 18% vào năm 2007 và 25% vào năm 2017. Tính đến nay việt nam có tỉ lệ học sinh học tiếp lên đại học hoặc cao đẳng đạt 52%, cao hơn rất nhiều nước trên thế giới.

Xem thêm :

Hệ thống giáo dục đại học và cao đẳng của việt nam hiện nay

Đang hoạt động khá thông thoáng, không chịu sử quản lý tập trung nhiều và có rất nhiều ngành học đa dạng, phong phú. Mặc dù ỏ cấp quốc gia là bộ giáo dục, sự quản lý tập trung và quyền hạn của bộ này cũng rất hạn chế. Thay vào đó, các tỉnh thành của nươc ta đều có quyền hạn và trách nhiệm trong việc giám sát, quản lý hệ thống làm bằng đại học giá rẻ giáo dục đại học và cao đẳng của riêng mình. Không có một cơ quan quản lý giáo dục quốc gia mang tính trung ương – điều thường xảy ra ở nhiều nước khác trên thế giới

Trong số 4064 tổ chức đào tạo đại học và cao đẳng theo số liệu 2000, hơn ½ là của tư nhân. Tuy nhiên, số sinh viên dự thi vào các trường công lại chiếm đến 2/3.Các trường đạihọc dành cho nghiên cứu và cấp bằng tiến sĩ chỉ chiếm 7% trong tổng số các trường đại học cao đẳng nhưng tổng số sinh viên theo học chiếm đến 27%. Các trường chuyên ngành chỉ cấp chứng chỉ cho một số lĩnh vực cụ thể nào đó như điện tư và thẩm mỹ học, chiếm khoảng 19% trong số tổng số các trường đại học, cao đẳng, nhưng tổ sô sinh viên theo học chỉ chiếm khoảng 3%. Như sơ đồ cho thấy, các trường đại học cao đẳng có thời gian khóa học kéo dài 2 năm chiếm tỉ lệ lớn nhất : 42%. Các trường này cấp bằng cao đẳng hoặc tổ chức các khóa học ngắn hạn cấp chứng chỉ. Các trường đại học có thời gian khóa học kéo dài 4 năm chiếm 15%

giáo dục có nên làm bằng đại học cao đẳng

giáo dục có nên làm bằng đại học cao đẳng

Vào năm 1998 có khoảng hơn 14 triệu sinh viên đang theo học ở cấp phổ thông trung học

Trong 50 năm qua, ngoài số sinh viên có nhu cầu làm bằng đại học có hồ sơ gốc không ngừng tăng lên, thành phần sinh viên cũng có nhiều thay đổi. Ít hơn 25% số sinh viên hiện nay là sinh viên truyền thống – tức là những sinh viên độ tuổi 18 – 22, độc thân, lệ thuộc gia đình về mặt tài chính, sống và học ở trong trường toàn thời gian. Ở hầu hết các trường, ngoại trừ các đại học và cao đẳng có tính lựa chọn cao, hơn 50% sô sinh viên có độ tuổi trên 25, đang làm việc và chỉ đến trường bán thời gian

Giáo dục đại học và cao đẳng là một ngành có giá trị ướcđạt 197 tỉ đô và chiếm 3% tổng sản phẩm trong cả nước. Ngành này sử dụng 2% lực lượng lao động cả nước và khoảng 1/5 sô này tham gia giảng dạy trực tiếp. Khoảng 70% số sinh viên nhận được sự hỗ trợ về tài chính. Trong năm học 1999 – 2000, số tiền tài trợ cho sinh viên lên đến 68 tỉ đô, 70% số này là các khoản vay ngân hàng hoặc là học bổng của chính quyền địa phương. Đa số các sinh viên đều tham gia các công việc bán thời gian đê bù đắp một phân chi phí học tập

Chính quyền các cấp cấp giấy phép thành lập các trường đại học hoặc cao đẳng. Tuy nhiên, việc kiểm định chất lượng các trường là một việc làm tự nguyện và phi chính phủ do các tổ chức phi lợi nhuận tiến hành

Tùy theo loại trường làm bằng đại học mà các cơ quan chức năng quản ly các nguồn kinh phí cũng khác nhau

Các trường tư thường có các hội đồng quản trị độc lập và hoạt động lệ thuộc rất nhiều vào nguồn thu từ học phí đón góp của sinh viên. Các trường làm bằng đại học tại tphcm này không nhận được sự trợ cấp của chính quyền tiểu bang hay liên bang. Tuy nhiên, những trường đã được kiểm định có thể dùng quỹ nghiên cứu, quỹ học bổng hoặc cho vay của chính quyền tiểu bang hay liên bang. Các trường tư thường có hai dạng: phi lợi nhuận ( trong đó có một số trường gắn liền với các tổ chức tôn giáo) và vì lợi nhuận. Trong hướng dẫn này, các trường tư được hiểu là các tổ chức phi lợi nhuận nếu không có giải thích gì khác

Các trường công chịu sự quản lý của các hội đồng quản trị trường, do chính quyền các tiểu bang bổ nhiệm, hoặc trong một vài trường hợp, ví dụ như các đại học cộng đồng thì do chính quyền thành phố hoặc hạt bổ nhiệm. Theo truyền thống, nguồn thu lớn nhất của các trường này là tài trợ lấy nguồn từ nguồn thu thuế của bang hoặc thành phố, hạt. Tuy nhiên trong những năm gần đầy, chính quyền một số bang đã cắt giảm tài trọ xuống chỉ còn khoảng ¼ nguồn thu của các trường công